Thứ Ba, 20 tháng 6, 2017

Lan Epipactis – mô tả và cách trồng

Lan Epipactis – mô tả và cách trồng
Tên đặt theo tiếng Hy lạp cổ, epipaktis nghĩa là cây thuốc (thảo dược).
Tông: Neottieae
Phân bố: Khoảng 25 loài ở những vùng có khí hậu ôn hòa thuộc châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ. Ở vùng nhiệt đới châu Phi có 3 loài.
Là địa lan với thân rễ bò lan, rễ mập, cây đứng thẳng, có nhiều lá. Lá mọc thành hai hàng hoặc mọc thành hình xoáy ốc, thường là gấp nếp. Vòi hoa không phân nhánh, có vài đến nhiều hoa, lá bắc nổi rõ. Hoa thường có màu xanh, đỏ tía ngả xanh hoặc đỏ tía ngả đỏ. Các lá đài và cánh hoa không theo quy ước, tương  tự như nhau, chúng có dạng phẳng và cong về phía trước. Môi không có cựa, nhưng tại phần gốc có dạng cái túi, phần giữa thắt lại, phần đầu phẳng  và có cái chóp.
CÁCH TRỒNG
Là loài chịu được băng giá vì vậy có thể trồng trong vườn nơi có khí hậu ôn hòa để chúng có thể bò lan ra thành từng cụm. Những loài không chịu được băng giá thì có thể trồng trong chậu hoặc trong nhà kính, với chất trồng bình thường dành cho địa lan.
Lan Epipactis_gigantea
Lan Epipactis_gigantea

Lan Erasanthe – mô tả và cách trồng

Lan Erasanthe – mô tả và cách trồng
Căn cứ đặt tên: là loài tương đồng với Aranthes.
Anagram Tông: Vandeae
Tông phụ: Aerangidinae
Có 1 loài và 2 loài phụ ở Madagascar
Lan biểu sinh đơn thân với bộ rễ chắc khỏe. Lá hình đai (strap) hoặc hình mũi mác ngược, riềm lá thường gợn sóng. Vòi hoa phát xuất từ nách lá, có một số hoa, hoa to màu xanh và trắng. Các lá đài và cánh hoa hình mũi mác nhọn, môi có tua, cựa thon nhỏ.
Giống Erasanthe được thiết lập vào năm 2007 để điều chỉnh cho phù hợp với Aeranthes henrici, là loài có nhiều điểm khác với các loài thuộc giống Aeranthes. Công tác nghiên cứu gien vừa qua đã chỉ ra rằng Erasanthe có quan hệ gần gũi với Beclardia, Crytopus Oeonia hơn là với Aeranthes.
CÁCH TRỒNG
Giống như các loài thuộc giống Aeranthes, Erasanthe henrici cần nhiệt độ từ trung bình đến ấm, có bóng râm, độ ẩm cao và thông gió tốt. Nếu trồng cây trong chậu, cây rất nhanh bị vàng úa vì thế và cũng bởi vì vòi hoa của nó dài và buông rủ nên trồng bằng cách ghép thì tốt hơn. Cây đưa về trồng ở nhà khó ra hoa hơn ở trong thiên nhiên.
Lan Eransanthe-henrici
Lan Eransanthe-henrici

Lan Eria và cách chăm sóc

Lan Eria và cách chăm sóc
Tên đặt theo tiếng Hy-lạp, erion nghĩa là (sợi) len, do trên hoa của nhiều loài thuộc giống này có long như nghững sợi len.
Tông: Podochileae.
Tông phụ: Eriinae.
Phân bố: Khoảng 330 loài ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á và các hòn đảo ở Thái bình dương.
Lan biểu sinh hoặc thạch lan, hiếm khi thấy là địa lan, với thân rễ bò lan. Giả hành hình trụ hoặc hình trứng, có 2-4 lá trên đỉnh giả hành. Gốc của giả hành được bao bọc bởi lớp vỏ lụa cúa lá đã rụng. Vòi hoa mọc từ đỉnh hoặc hoặc từ nách lá, vòi hoa đứng thẳng hoặc uốn cong. Hoa thường khi nở thì mở rộng, màu kem hoặc vàng, thỉnh thoảng có những đốm màu đỏ tía, phía ngoài của lá đài có lông. Các lá đài và cánh hoa tương tự nhau. Hai lá đài bên cùng với chân trụ hoa tạo thành cái cằm. Môi liền hoặc chia làm ba thùy, thường có mô sần và cái chụp. Khối phấn 8, chia 2 nhóm, mỗi nhóm 4.
Có nhiều chi trong giống Eria, thí dụ chi Bryobium, vừa qua được nâng lên thành giống riêng biệt.
CÁCH TRỒNG
Hầu hết các loài thuộc giống này đều dễ trồng, với điều kiện nhiệt độ trung bình, bóng râm nhẹ và có độ ẩm cao. Cây hình thành từng cụm, thí dụ loài Eria coronaria, có thể được trồng trong chậu với chất trồng chủ yếu là mảnh gỗ nhỏ. Song nó là loài bò lan nên cách tốt nhất là trồng bằng cách ghép. Vào mùa đông nên giữ cho cây được khô, song lưu ý đừng để các giả hành bị thui chột
Lan Eria-coronaria
Lan Eria-coronaria
Lan Eria-latibracteata
Lan Eria-latibracteata
Lan Eria-braddonii
Lan Eria-braddonii

Lan Eriopsis và cách trồng

Lan Eriopsis và cách trồng
Xuất cứ tên gọi: Từ tên Eria, thêm tiếp vĩ ngữ opsis, tiếng Hy-lạp nghĩa là tương tự. Giống Eriposis trông tương tự như giống Eria.
Tông: Maxillarieae
Tông phụ: Eriopsidinae
Phân bố: Có 5 loài ở Trung và Nam Mỹ
Là loài lan biểu sinh có kích thước từ vừa đến lớn. Cũng có thể là địa lan hoặc thạch lan có giả hành hình trụ hoặc hình côn với những lá bắc quấn quanh gốc. Có 2-3 lá ở đỉnh giả hành. Lá gấp nếp. Vòi hoa phát xuất từ gốc, thẳng đứng hoặc uốn cong, không phân nhánh, có vài hoa hoặc nhiều hoa. Các lá đài và cánh hoa phẳng, tương tự như nhau, cánh hoa hẹp hơn lá đài một chút. Môi có ba thùy, môi ngắn hơn nhưng rộng hơn các chi tiết khác của hoa, trên mặt có chi tiết giống cái mào hoặc mô sần.
CÁCH TRỒNG
Có thể trồng trong chậu với chất trồng dành cho lan biểu sinh, thoát nước tốt, nhiệt độ trung bình và dưới bóng râm vừa phải, tưới nước nhiều trong thời kỳ sinh trưởng, khi cây bước vào kỳ nghỉ thì giảm tưới.
Lan Eriopsis-biloba
Lan Eriopsis-biloba

Trồng Lan Esmeralda như thế nào

Trồng Lan Esmeralda như thế nào
Xuất xứ tên gọi: Tiếng Hy-lạp, smaragdus  nghĩa là màu xanh ngọc lục bảo, có lẽ căn cứ vào vẻ đẹp của hoa hoặc màu xanh đậm của lá.
Tông: Vandeae
Tông phụ: Aeridinae
Phân bố: Có 2 loài ở Himalayas và Đông nam Á.
Loài lan lớn, là loài bò lan và leo bám, có quan hệ với Vanda. Lá dai, hình đai (strap), mọc thành 2 hàng, phần chân lá xoắn lại và cùng quay về một hướng. Vòi hoa phát xuất từ nách lá, không phân nhánh. Hoa có màu nổi bật, màu vàng có những đốm nâu. Các lá đài và cánh hoa như nhau, phẳng. Môi có ba thùy, ở phần chân hình thành cái túi, không có cựa.
CÁCH TRỒNG
Cây thích hợp trồng ở nơi có khí hậu ấm, nhưng nên trồng trong các chậu lớn hoặc trong giỏ treo, với các chất trồng dựa trên các mảnh gỗ thô, cần có cây chống vì chúng sẽ phát triển với cái thân dài. Những loài này cần tưới nhiều nước, nếu trồng trong nhà kính ở những vùng khí hậu ôn hòa thì cần phải có càng nhiều ánh sáng càng tốt.
Lan Esmeralda clarkei
Lan Esmeralda clarkei

Trồng lan Erycina như thế nào

Trồng lan Erycina như thế nào
Xuất xứ tên gọi: Tên của một vị thần Vệ nữ trong tiếng Hy-lạp ở Mount Eryx thuộc Sicily.
Cùng giống: Psymorchis Dodson & Dressler
Tông: Maxillarieae
Tông phụ: Oncidiinae
Phân bố: Có 7 loài từ Mexico đến Trung và Nam Mỹ và Trinidad
Là loài lan biểu sinh nhỏ, có hoặc không có giả hành, nếu có giả hành, thì sẽ có 1-2 lá trên đỉnh. Nếu không có, thì lá sẽ mọc sang hai bên hình thành một cái quạt. Vòi hoa hình thành từ nách lá, phân nhánh hoặc không phân nhánh, có một ít hoặc nhiều hoa. Hoa to so với kích thước của cây. Lá đài sau tạo thành cái mũ chụp, phủ lên trụ hoa, lá đài hai bên nhỏ hơn nhiều. Các cánh hoa tương tự như lá đài sau. Môi rộng hơn lá đài và cánh hoa, có ba thùy, thùy giữa đôi khi lại chia thành 2 hoặc 4 thùy.
CÁCH TRỒNG
Nhiều loài trong giống này thuộc loài lan biểu sinh có tuổi thọ ngắn. Trồng bằng cách ghép là tốt nhất, với điều kiện nhiệt độ trung bình, dưới bóng râm và độ ẩm cao và lưu ý không bao giờ để cây khô.
Lan Erycina-pusilla
Lan Erycina-pusilla

Lan Euanthe, mô tả và cách trồng

Lan Euanthe, mô tả và cách trồng
Xuất xứ tên gọi: Tiếng Hy-lạp euanthes nghĩa là nở bung ra, căn cứ vào hình dạng của hoa.
Tông: Vandeae
Tông phụ: Aeridinae
Phân bố: Có 1 loài ở Philippines
Lan biểu sinh thân lớn với nhiều rễ phát triển trong không gian. Lá mọc thành 2 hàng. Vòi hoa mọc từ nách lá, không phân nhánh. Các lá đài và cánh hoa không theo quy ước, phẳng, tương tự như nhau, nhưng các cánh hoa thì nhỏ hơn chút xíu. Môi nhỏ hơn nhiều so với lá đài và cánh hoa, chia làm hai phần, với một cái móng dạng túi (saccate hypochile) và một phiến (epichile) quay xuống dưới và có 3 chóp.
Euanthe sanderiana được sử dụng nhiều vào việc lai tạo. Nhằm mục đích đăng ký, chúng được biết đến là Vanda. Đặc biệt, người ta lai tạo chúng với Ascocenda như loài lai Ascocentrum x Vanda trở thành loài Euanthe sanderiana, là loài đặc hữu.
CÁCH TRỒNG
Nhiệt độ trung bình đến nhiệt độ ấm (thấp nhất là 15oC), ánh sáng mạnh, tưới nhiều nước và bón nhiều phân trong giai đoạn cây tăng trưởng, vào mùa đông thì các thứ trên giảm xuống. Trồng chúng trong chậu với các chất trồng thô, nhưng vì rễ của chúng phát triển trong không gian nên cần phải có độ ẩm cao.
Lan Euanthe sanderiana var. alba
Lan Euanthe sanderiana var. alba
Lan Euanthe (Vanda) sanderiana
Lan Euanthe (Vanda) sanderiana