Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Cuộc khởi nghĩa của Trương Định (1862 - 1864)


Image
 Trương Định nhận phong soái
Sau khi Gò Công rơi vào tay giặc. Tri huyện Tân Hòa là Đỗ Trình Thoại vì để mất thành nên bị cách chức, cho lập công chuộc tội. Đỗ Trình Thoại huy động dân binh, đêm 22-6-1861, tấn công quân Pháp đồn trú tại Gò Công. Trung úy Vial bị trọng thương, tên lính Bondiez tử trận. Tri huyện Đỗ Trình Thoại hy sinh trong trận. Danh nghĩa Trương Định lúc bấy giờ là tướng dưới quyền của Đỗ Trình Thoại, nhưng trong thực tế, ông có sẵn lực lượng quân đồn điền và đủ uy tín để chiêu mộ quân nghĩa dũng. Ngày hôm sau Trương Định chỉ huy quân tấn công vào Gò Công lần thứ hai.
Bước sang năm 1862, những cuộc tấn công của nghĩa quân Trương Định càng quyết liệt hơn.
Ngày 10-1-1862: nghĩa quân Trương Định tấn công đồn Gia Thạnh (nay thuộc Tân An).
Liên kết cùng Trương Định, ngày hôm sau, nghĩa quân Thiên Hộ Dương tấn công đồn Rạch Gầm.
Từ ngày 22-1-1862 đến ngày 28-2-1862, nghĩa quân Trương Định và nghĩa quân Võ Duy Dương ba lần mở cuộc tấn công vào đồn Kỳ Hôn, có lần giặc Pháp phải bỏ đồn tháo chạy, bị nghĩa quân truy đuổi.
Ngày 23-1-1862, nghĩa quân Võ Duy Dương vây đánh đồn Rạch Gầm. Ngày 28-1-1862, nghĩa quân đồng loạt tấn công bốt đồn Cái Bè, Cai Lậy, Thuộc Nhiêu, Rạch Gầm và tấn công pháo hạm Shamrock.
Từ ngày 28-2-1862 đến 6-3-1862, nghĩa quân Trương Định hoạt động mạnh ở vùng Chợ Cũ (Mỹ Tho). Pháp nhận thấy lực lượng của chúng không đủ để đóng rải rác quá xa, cũng không thể chống cự lâu dài với hoạt động mỗi ngày một tăng của nghĩa quân. Thiếu tướng hải quân bèn ra lệnh cho quân Pháp rút khỏi đồn Gia Thạch, Kỳ Hôn, Chợ Cũ (Mỹ Tho), Rạch Gầm, Gò Công, Cái Bè. Ngay khi các toán quân của Pháp rút đi, nghĩa quân đã dùng đại bác bắn đuổi theo quyết liệt. Các ban Hương chức Hội tề do thực dân dựng lên cũng hoảng sợ, chạy theo chủ. Một số lính người Tagal(1) đã bán vũ khí cho nghĩa quân, hoặc đào ngũ chạy sang phía nghĩa quân.
Đêm 6-4-1862, nghĩa quân Trương Định táo bạo đột kích Chợ Lớn, dọc rạch Tàu Hủ tới đồn Cây Mai, đốt cháy đồn Pháp. Sau trận đột kích này, quân Pháp chỉ phản ứng bằng cách tăng cường tuần tiễu vùng Sài Gòn - Chợ Lớn và cho mật thám theo dõi vùng Cần Giuộc, nhưng không dám cho quân tiến xuống Gò Công.
Bấy giờ, nghĩa quân vẫn cố thủ Ba Giồng, mặc dù Tân Thành đã bị vỡ. Võ Duy Dương rút về căn cứ Bình Cách(2). De Grammont nhận xét: “Những cuộc thất bại của đội quân An Nam không chút ảnh hưởng đến tình hình ứng nghĩa của các vùng đã bị chiếm đóng”. Mọi cơ cấu của Pháp ở vùng chiếm đóng đều bị sụp đổ. Tất cả chỉ là một khoảng trống lớn.
Trong lúc ấy, đội quân của thực dân Pháp còn bị sa lầy ở Syrie, Mexique, Trung Quốc. Thế nhưng, nhà Nguyễn hình như không nhận thấy thế bất lợi của giặc, tư tưởng “chủ hòa” thắng thế nên triều đình đã chịu ký Hiệp ước năm Nhâm Tuất, ngày 5 tháng 6 năm 1862.
Với Hiệp ước Nhâm Tuất, ba tỉnh Biên Hòa, Gia Định và Định Tường rơi vào tay Pháp. Triều đình Huế đã ra lệnh bãi binh trong tỉnh này. Khâm phái Quân vụ Nguyễn Túc Trưng bị triệu về Huế. Trương Định được phong Lãnh binh An Giang, Hà Tiên. Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân tập trung tại Kiến Hòa chờ lệnh.
Trương Định, Thủ khoa Huân, Thiên hộ Dương rất phân vân, không biết nên theo lệnh của triều đình hay đứng về phía nhân dân. Cuối cùng, Trương Định cưỡng lại lệnh của triều đình, ở lại Gò Công cùng nhân dân kháng chiến, không về An Giang nhậm chức. Ông xây dựng căn cứ Tân Hòa (Gò Công).
Tháng 7 năm 1862, Trương Định viết thơ gởi Thiên Hộ Dương và Thủ Khoa Huân bàn kế hoạch hợp đồng tác chiến. Tự Đức sai Thị vệ Nguyễn Thi đến Tân Hòa, phong Trương Định chức Bình Tây tướng quân, thống lĩnh chỉ huy quân nghĩa dũng trong ba tỉnh. Nguyễn Thi lại đến Kiến Hòa phong Võ Duy Dương chức Chánh Đề đốc, phong Nguyễn Hữu Huân làm Phó Đề đốc. Sau khi nhận chức, Trương Định phát hịch kêu gọi nhân dân ba tỉnh nhất tề đứng lên chống kẻ thù xâm lược. paulin Vial nhận xét: “Quản Định là linh hồn của mọi phong trào. Những bài hịch kêu gọi của ông ta được trao tay, truyền miệng phổ biến ở khắp mọi nơi. Dường như sau khi Gò Công thất thủ, ông ta lại có ảnh hưởng to lớn”.
Ngày 5-1-1863, nghĩa quân Trương Định bẻ gãy cuộc càn quét của 50 tên lính địch có pháo binh yểm trợ do Coquet chỉ huy. Trận này nghĩa quân diệt 2 tên kỵ binh và làm bị thương 7 con ngựa chiến.
Liên tiếp trong ba ngày mồng 5, 6 và 7 tháng giêng năm 1863, nghĩa quân chặn đứng cuộc tập kích vào vùng Gia Thạnh.
Ngày mồng 5-1-1863, Đại úy Lepès chỉ huy hai cánh quân tấn công căn cứ Gò Công. Lực lượng chia hai cánh quân: cánh theo đường bộ gồm 11 lính thủy, 15 lính thủy quân lục chiến, 5 pháo thủ, 1 đại đội lính người châu Phi và 30 lính mã tà người bản xứ; cánh đi theo đường thủy gồm 1 trung đội thủy quân lục chiến, một số pháo hạm. Quân Pháp từ Sài Gòn tiến xuống, vì bị tập kích liên tục, sáu ngày sau chúng mới tới Cần Đước. Tại đây, chúng bị nghĩa quân của Bùi Quang Diệu (Quản Là) đánh một trận lớn, địch bị thiệt hại nặng nề, phải rút lui, bỏ lỡ cuộc hành quân.
Từ ngày 23-1 đến ngày 20-1-1863, quân địch tập trung lực lượng tấn công nghĩa quân Võ Duy Dương ở Giồng Cát (Gò Lũy) và Bưng Môn (Cai Lậy). Nghĩa quân chiến đấu rất dũng cảm, nhưng do chênh lệch quá lớn về lực lượng, nghĩa quân rút về xây dựng đồn lũy ở Xoài Tư (Cai Lậy giáp Cái Bè).
Để phân chia lực lượng địch ra nhiều hướng, Trương Định ra lệnh cho nghĩa quân đánh mạnh ở khắp nơi, phá đường giao thông Sài Gòn - Mỹ Tho và cắt đường dây điện thoại Sài Gòn, Vũng Tàu, Biên Hòa, Bà Rịa. Đồng thời, ngày 17-1-1863, ông ra lời hịch khẳng định lập trường kiên định của mình và kêu gọi dân chúng địa phương hưởng ứng chống giặc.
Nghĩa quân Trương Định nổi lên khắp mọi nơi, chẳng những ở Gò Công mà còn ở Bà Rịa, Cần Giờ, Chợ Lớn, Hóc Môn… Quân số địch giảm sút, bị bao vây bốn phía, bối rối nhiều mặt, Bonard phải cầu cứu chính quốc. Vì vậy, vào tháng 1 và tháng 2-1863, Chính phủ Pháp gửi sang Nam kỳ hai viễn đoàn lính thủy quân lục chiến. Cũng trong tháng 2, Đô đốc Jaures đưa từ Thượng Hải (Trung Quốc) tiếp viện thêm một tiểu đoàn khinh binh Bắc Phi, nửa tiểu đoàn bộ binh người Algérie, nửa đội pháo binh. Ngoài ra, thực dân Tây Ban Nha cũng đưa tới 800 lính Tagal từ Philippin để hỗ trợ cho quân Pháp.
Viện binh đến Bonard buộc vua Tự Đức phải gấp rút phê chuẩn thi hành Hiệp ước Nhâm Tuất, để triều đình Huế không còn chính thức giúp đỡ Trương Định. Ngày 7-2-1863, Bonard ra tuyên ngôn kết tội Trương Định, ra lệnh càn quét và hứa thưởng 10.000 quan cho người giết được Trương Định.
Ngày 16-2-1863, Bonard chỉ huy quân đội trực tiếp xuống Gò Công càn quét. Lực lượng địch chọc thủng hai phòng tuyến Đông Sơn và Vĩnh Lợi (nay đều thuộc Gò Công Tây). Tuy vậy, quân Pháp thương vong rất nhiều, phải ngừng súng, chờ viện binh. Ngày 22-2-1863, viện quân Pháp từ Sài Gòn xuống hơn ba tiểu đoàn và bắt đầu bao vây các căn cứ của nghĩa quân:
- Tàu L’Européen đậu ở cửa Rạch Lá.
- Tàu Alame đậu ở rạch Gò Công, trên bờ có một pháo đài.
- Tàu Circé đậu ở Vàm Láng, sông Xoài Rạp.
- Lực lượng bộ binh tăng cường hai đồn Chợ Gạo và đồn Mỹ Tho.
- Tàu Forbin phong tỏa sông Vàm Cỏ.
- Tàu Cosmao, pháo thuyền 20, chiến thuyền Saint Joseph và 15 chiếc ghe bao vây phía tây.
Thực dân Pháp chuẩn bị pháo kích trận tuyến của nghĩa quân Trương Định ở Gò Công
Công binh còn chuẩn bị 30 chiến thuyền bọc sắt, sẵn sàng ghép lại thành một chiếc cầu, để quân lính vượt bãi lầy.
Sáng ngày 26-2-1863, quân Pháp do tướng Chaumot chỉ huy bắt đầu tấn công. Đích thân Đô đốc Bonard trên chiến hạm Ondine thị sát trận chiến. Quân thủy bộ từ nhiều hướng tiến vào. Trương Định thấy thế địch mạnh, ra lệnh cho nghĩa quân phục kích đánh tỉa, đồng thời lại ra lệnh cho đại quân rút vào rừng lá bảo toàn lực lượng. Sáng ngày thứ ba, các mũi quân địch tiến dần đến Gò Công. Chúng thấy trong đồn có lửa cháy. Nhưng khi đến gần thì hoàn toàn trống rỗng. Nghĩa quân đã rút an toàn.
Trước những khó khăn mới, Trương Định chuyển qua rừng Lý Nhơn (nay thuộc Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh), chuẩn bị lương thực, vũ khí, chiêu mộ thêm nghĩa quân và phát lời hịch. Địa bàn hoạt động của nghĩa quân rộng lớn, từ Gò Công đến Biên Hòa, Sài Gòn, Mỹ Tho, Tây Ninh, Tân An. Trương Định còn cử người theo đường biển ra Bình Thuận tìm cách mua vũ khí, đạn dược.
Ngày 25-9-1863, hai toán quân Pháp do Gougead và Bélic chỉ huy bất ngờ tấn công vào căn cứ Lý Nhơn. Nghĩa quân chống trả anh dũng, rồi rút trở về hướng Gò Công, đóng quân tại "đám lá tối trời", tức khu vực đồn điền Gia Thuận.
Ngày 20-4-1864, tên phản bội Huỳnh Công Tấn phát hiện địa điểm Trương Định tại "đám lá tối trời" (Gia Thuận) đem quân bao vây. Trong lúc hỗn chiến, Trương Định bị thương nặng; biết không thoát được, ông trở gươm đâm thẳng vào bụng tuẫn tiết.
Địch đem xác Trương Định về phơi nắng tại chợ Gò Công để đe dọa tinh thần nhân dân. Nhưng nhờ uy thế của bà Trần Thị Sanh, địch phải cho gia đình đem xác ông về tổ chức tang lễ. Bà Trần Thị Sanh là người tổ chức hậu cần cho cuộc khởi nghĩa. Gia đình bà có quan hệ với họ ngoại vua Tự Đức. Lúc chồng hy sinh, bà biết cách lợi dụng thanh thế của gia đình để đề cao tinh thần yêu nước của anh hùng dân tộc Trương Định, mặc dù có lúc địch đã ngăn cấm, phạt vạ.
Tự Đức hay tin Trương Định tuẫn tiết bèn truy tặng phẩm hàm(3) cho Trương Định và cho lập đền thờ tại Quảng Ngãi.
Thực dân Pháp kinh sợ, ép buộc nhà Nguyễn phải giải giới nghĩa quân. Thủ khoa Huân ở An Giang sơ suất để lộ bí mật, bị Pháp phát hiện, buộc Tổng đốc An Giang bắt ông giao nộp cho chúng.
Sau khi Trương Định tuẫn tiết, Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân chia quân ra nhiều nhóm nhỏ, phân tán hoạt động để đảm bảo đủ lương thực. Thiên hộ Dương cử Thủ Khoa Huân sang An Giang, Hà Tiên tìm cách mua súng đạn. Thủ khoa Huân còn quan hệ với thủ lĩnh chống Pháp người Khmer là Á Xoa (Thạch Bướm) để liên kết chiến đấu chống kẻ thù chung. Thực dân Pháp hay tin đem tàu chiến bao vây, ép Tổng đốc An Giang phải bắt Thủ Khoa Huân nộp cho chúng.

Khởi nghĩa Trương Định:
Mở đầu bước ngoặt lịch sử nói trên là khởi nghĩa Trương Định với căn cứ kháng chiến Gò Công.
Tiểu sử và sự nghiệp chống Pháp của Trương Định được ghi lại súc tích trong bài văn bia tại lăng mộ ông xây năm 1875 với những đoạn như sau:
“Phó lãnh binh họ Trương, húy Định, tổ tiên ở tỉnh Quảng Ngãi, xã Tư Cung. Thân sinh ông là Trương Cầm, trải thờ ba triều vua, giữ chức Chưởng lý thủy sư. Trương công ứng mộ đồn điền, được nhận chức quản cơ Gia Thuận.
Năm Kỷ Mùi (1859) ,Pháp chiếm thành Gia Định, ông theo giúp việc nơi quân thứ. Năm Canh thân (1860) đại đồn thất thủ, ông về Gò Công mộ nghĩa binh, bằng muôn ngàn kế sách đơn độc giữ vững một huyện, quyết chí thu phục giang sơn cũ. Tiếp đó ông nhận chức phó lãnh binh Gia Định…

    Năm Nhâm Tuất (1862), do việc hòa nghị ông được điều bổ về An Giang. Lúc đầu ông không có ý cưỡng lệnh triều đình, nhưng cũng lại không muốn phụ lòng mọi người. Do lòng trung phẫn, họ ngăn ông giữa đường, không muốn cho ông đi nhận chức, đồng lòng suy tôn ông làm đại tướng quân, mà triều đình cũng không hay biết.
    Năm Quí Hợi (1863), đồn Gò Công thất thủ, ông lại quay trở về đây và lại khởi binh. Ngày 19 tháng 7 năm Tự Đức thứ 17 (1864) ông tử trận ở rừng Tân Phước, được đem về an táng ở làng Thuận Ngãi. Có bài ca ngợi ông rằng: “Dòng dõi trâm anh, hành động anh hùng, quyết sống chết nơi sa trường, ngàn năm ngưỡng mộ (…)”.
Như vậy, thời gian hiệp ước Nhâm Tuất (6.1862) địa bàn Gò Công đã là một trong những trung tâm đầu tiên quy tụ phong trào chống Pháp. Sức mạnh của nghĩa quân Gò Công ngày một tăng nhờ phối hợp liên kết với các thủ lĩnh của nhiều cuộc khởi nghĩa khác trong vùng (Đỗ Trình Thoại, Trần Xuân Hòa, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Võ Duy Dương…). Thực tế này được Nguyễn Thông ghi lại: “khi Trương Định đóng giữ Tân Hòa, hội mọi người để bàn định kế hoạch…, hào kiệt kéo đến như mây”.

    Các thủ lĩnh Võ Duy Dương và Nguyễn Hữu Huân cũng “đã tham gia tích cực vào phong trào kháng Pháp do Trương Định lãnh đạo trong giai đoạn trước và sau hòa ước cắt ba tỉnh miền Đông Nam Bộ cho giặc Pháp. Võ Duy Dương được cử làm Chánh quản đạo và Nguyễn Hữu Huân làm Phó quản đạo”.
    
     Ngoài lính đồn điền và nông dân “ứng nghĩa”, lực lượng của Trương Định còn bao gồm nhiều quan lại, sĩ phu, thân hào ở Gò Công và các vùng lân cận như Hồ Huân Nghiệp, Bùi Tấn, Lý Duy Phiên, Hà Mậu Đức, Hoàng Văn Đạt, Nguyễn Duy Thuận… Cụ Đồ Chiểu cũng là bạn tâm giao của Trương Định.
    Từ sau hiệp ước Nhâm Tuất (6.1862), cụ thể là khi Trương Định được “thăng lãnh binh An Giang, phải giải binh đi nhận chức mới” thì cũng là thời điểm đánh dấu một chuyển biến lớn trong nhận thức của Trương Định và phong trào kháng chiến do ông lãnh đạo. Sử triều Nguyễn chép: “Nghĩa quân Nam Kỳ không chịu thôi việc binh, suy tôn ông Định đứng đầu, dâng sớ về triều đình xin tiếp tục chiến đấu. Đình thần sợ trái hiệp ước, không cho phép, lại giục ông Định phải đi nhận chức. Nhưng ông vẫn không nhận chức, vẫn ở lại Gia Định chỉ huy phong trào kháng chiến”.
     Thực ra, trong “tuyên ngôn” của mình, Trương Định cũng đã nói rõ: “Chúng tôi sẽ chống lại lệnh triều đình” nếu vẫn “duy trì sự đã rồi bằng cách nhường một phần đất nước và giúp đỡ quân giặc”. Thêm nữa “nhân dân ba tỉnh tha thiết muốn khôi phục địa vị cũ bèn tôn chúng tôi lên làm lãnh tụ. Vậy nên chúng tôi không thể đừng làm điều mà chúng tôi đang làm, cho nên chúng tôi sẵn sàng chiến đấu”.
Có thể nói: trải qua một quá trình trăn trở trước lệnh bãi binh của triều đình, cuối cùng Trương Định đã dũng cảm đứng hẳn về phía nhân dân. Đây là bước ngoặt quyết định trong sự nghiệp cứu nước của Trương Định, nâng cao tầm vóc cuộc khởi nghĩa trở thành ngọn cờ tiêu biểu trong phong trào chống Pháp buổi đầu.
Xác định tính chất lâu dài gian khổ của cuộc kháng chiến, Trương Định ra sức bổ sung lực lượng, tăng cường hệ thống phòng thủ. Phạm vi hoạt động của nghĩa quân bao quát địa bàn tỉnh Gia Định bấy giờ, đồng thời có sự liên hệ chặt chẽ với Biên Hòa và Định Tường. Khi lực lượng đã phát triển,

Trương Định “cho bố trí pháo đội trên tất cả các con rạch dẫn đến con sông giữa vùng đất ông chiếm giữ và thường tấn công tàu tuần phòng của Pháp”.
Bảo vệ căn cứ Gò Công là ba đạo binh ở Gò Đen, Cần Đước và Tân Thạnh, tạo thành hệ thống tiền đồn hình tam giác. Mô tả căn cứ Gò Công, sĩ quan Palanca viết: “Ở Gò Công, hai chiến lũy quan trọng nhất là Rạch Gò Công và Rạch Lá, gồm các hầm hào tự nhiên…, có pháo đài và lũy, khắp nơi đều có cầu nổi bắc qua hai bờ sông bùn lầy, cây cối rậm rạp”.
Hoạt động vũ trang nổi bật của nghĩa quân Trương Định là một loạt trận đánh vang dội từ sau hiệp ước 1862. Ngày 6.12.1862, nghĩa quân bố trí đánh một chiến thuyền địch trên sông Vàm Cỏ (gần suối Trảng Bàng), mở màn cho cuộc tổng công kích của nghĩa quân 10 ngày sau đó. Cuộc tổng công kích bất ngờ và đồng loạt này bắt đầu ngày 16.12.1862 và kéo dài cho đến cuối năm.
Trận đánh lớn đầu tiên của nghĩa quân là trận tập kích đồn Rạch Tra (sáng 17.12) cách Sài Gòn 15km. Cùng ngày, nghĩa quân chia nhiều toán tập kích chiến thuyền địch tại Bến Lức và vây đồn Phước Hòa. Rạng ngày hôm sau (18.12), 1.200 nghĩa quân tấn công và chiếm được đồn Long Thành. Cũng trong đêm 17 rạng ngày 18.12, tại địa bàn Gò Công, nghĩa quân tập kích pháo thuyền “Alarme” và trận địa pháo của địch trên bờ rạch Gò Công v.v… Cuộc công kích đồng loạt của nghĩa quân được kết thúc với trận tấn công đồn Rạch Kiến (tối 18.12), với lực lượng 2000 người, trang bị 12 đại bác bắn đá.
Cuộc chiến đấu của nghĩa quân Trương Định trong tháng 1.1863 được đánh dấu bằng những trận cản phá có hiệu quả các đợt hành quân càn quét của địch. Sau những trận tấn công, phục kích, chống càn quét đối mặt với địch trên địa bàn rộng lớn khắp ba tỉnh miền Đông, nghĩa quân rút về căn cứ. Quân pháp bị tiêu diệt một phần sinh lực, buộc phải phân tán bám giữ những vùng đã chiếm.
Khoảng đầu tháng 2.1863, Pháp có thêm viện binh, Bonard quyết định đánh một đòn mạnh vào căn cứ Gò Công.
Chuẩn bị cho trận đánh lớn, đẩy nghĩa quân vào thế bất lợi, Bonard yêu cầu triều đình Huế gấp rút phê chuẩn hiệp ước Nhâm Tuất, ban hành ngay lệnh “cấm dân nổi loạn”. Ngày 2.2.1863, Bonard gửi vua Tự Đức một tối hậu thư: “… Nếu không thuận, xứ này sẽ điêu linh…., ba tỉnh miền Nam còn lại lập tức thất thủ, rồi đồng thời với Nam Kỳ và Bắc Kỳ, nước ông sẽ mất… Chúng tôi không muốn tranh cãi gì hết… Nếu chính phủ An Nam không chấp thuận những điều kiện (đã ký kết), chúng tôi buộc phải tôn trọng chữ ký của Hoàng đế chúng tôi”.
Không còn phải lo ngại về phía triều đình nhà Nguyễn, Bonrard tập trung toàn bộ binh lực tiêu diệt căn cứ Gò Công. Ngày 16.2.1863, Bonard đích thân xuống Gò Công khảo sát, phát truyền đơn hứa thưởng 10.000 francs cho kẻ nào lấy được đầu Trương Định. Quân địch chọn các mục tiêu Gò Đen, Đồng Sơn và Vĩnh Lợi (hệ thống tiền đồn của nghĩa quân) để mở đầu cuộc tấn công.
    
    Ngày 22.2.1863, đạo quân chủ lực của địch do tướng Chaumont chỉ huy từ Sài Gòn kéo xuống. Sáng 26.2, đại binh Pháp theo hai đường thủy bộ tiến về Trại Cá (Bến Chùa). Trương Định nắm được ý đồ của địch quyết tiêu diệt đầu não kháng chiến, ông vừa bố trí những trận phục kích, vừa bí mật di chuyển toàn bộ lực lượng. Khi địch vào đến căn cứ mới biết nghĩa quân đã bỏ đi rồi.
     Trương Định chọn đại bản doanh mới ở Lý Nhơn, một vùng phù sa có rừng dừa nước che kín, phân tán nghĩa quân thành từng toán nhỏ trong vùng giáp ranh Biên Hòa và vùng đầm lầy ở vàm sông Soi Rạp và Đầm Trang. Ngày 25.9.1863, được bọn tay sai mật báo, quân Pháp đột kích căn cứ Lý Nhơn. Nghĩa quân phá vòng vây, trở về vùng Gò Công, chọn một khu vực hiểm yếu để ẩn náu lực lượng bên hữu ngạn sông Soi Rạp, khoảng giữa hai làng Tân Phước và Kiểng Phước (Đám lá tối trời).

Ngày 19.8.1864, địch phát hiện nơi Trương Định trú ngụ, nhân đêm tối kéo đến bao vây. Sáng 20.8, Trương Định lọt được khỏi vòng vây, nhưng bị địch bắn theo, hy sinh tại trận.
 

thanh_go_den_cua_truong_dinh_500
Thành Gò Đen ( Trương Định)
cn_cu_nghia_quan_truong_dinh_bi_phap_danh_chiem_500
Căn cứ của nghĩa quân Trương Định bị Pháp đánh chiếm  (1863)

Căn cứ Đồng Sơn của nghĩa quân Trương Định (sau khi bị thực dân Pháp đánh chiếm năm 1863)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét