Chủ Nhật, 28 tháng 2, 2016

Trận Đại đồn Chí Hòa- Ngày 23 tháng 2 năm 1861

 300px-kyhoa
Đại đồn Chí Hòa (hay Kỳ Hòa)
Ngày 12 tháng 2 năm 1859, thực dân Pháp chiếm thành Gia Định. Năm 1860, vua Tự Đức sung chức Gia Định Quân thứ cho tướng Nguyễn Tri Phương, để cùng Tham tán đại thần Phạm Thế Hiển, trông coi việc quân sự ở miền Nam.
Để đương đầu với thực dân Pháp ở Gia Định, ngay khi mới vào thay tướng Tôn Thất Hiệp, Nguyễn Tri Phương đã cho tập trung sức quân, sức dân vào việc xây dựng một đại đồn lớn, để ngăn chặn và đánh bại các cuộc tấn công của liên quân Pháp - Tây Ban Nha.

Đại đồn mới của Nguyễn Tri Phương được xây dựng từ tháng 8 năm 1860 đến tháng 2 năm 1861 mới hoàn thành. Do công trình này ở tại làng chí Hòa nên được gọi là Đại đồn chí Hòa.
 Đại đồn dài 3.000m, rộng 1.000m, được chia làm năm khu bằng nhau, ngăn cách bằng một bờ rào gỗ có cửa. Tường đồn được xây bằng đất sét và đá ong, cao 3,5m, dày 2m, có rất nhiều lỗ châu mai.
Mặt trên và mặt ngoài tường đồn, có trồng nhiều cây gai gốc dày đặc. Bên ngoài đồn có nhiều lớp rào tre, nhiều mô đất, nhiều ao nước và vô số hố chông.
Trên mặt tường đồn, bố trí 150 đại bác các cỡ bắn bằng đạn gang. Bên phải của đại đồn về phía chùa Cây Mai và bên trái rạch Thị Nghè có đắp mỗi bên một chiến lũy dài, lấy đồn Hữu và đồn Tả làm điểm tựa. Đằng sau Đại đồn là nhiều đồn nhỏ yểm trợ: đồn Thanh Lương, đồn Thuận Kiều, đồn Rạch Tra...Ngoài ra, phía sau đại đồn còn có kho chứa quân lương, quân khí.
Khi ấy, ở đại đồn có khoảng 20.000 quân thường trực, 10.000 quân dân dũng. Vì vậy đối với thực dân Pháp, đại đồn Chí Hòa là một vật cản lớn cần phải đánh dẹp, để họ có thể tiến chiếm các nơi khác...

Ngày 23 tháng 2 năm 1861, quân Pháp do Đô đốc Charner chỉ huy với khoảng 5.000 quân và chiến thuyền các loại, bắt đầu công phá Đại đồn Chí Hòa. Đáp lại, tướng Nguyễn Tri Phương với khoảng 30.000 quân thường trực và quân dân dũng, cũng đã kháng cự mãnh liệt, nhất là trong hai ngày 24 và 25 tháng 2. Tuy nhiên, trước những vũ khí hùng hậu và hiện đại, lực lượng giữ Đại đồn cũng đã phải rút lui, để cho quân Pháp chiếm đoạt và rồi cho san bằng.
Trận Đại đồn Chí Hòa (Đại đồn Chí Hòa, Pháp gọi là Kỳ Hòa, gọi tắt là Đại đồn) xảy ra tại Sài Gòn (Việt Nam) vào 4 giờ sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, và đến khoảng 8 giờ tối ngày hôm sau thì kết thúc. Đại đồn do Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương trấn giữ đã bị quân Pháp chiếm mất. Sau lần đại bại này, triều đình nhà Nguyễn sẽ từ chủ trương “thủ để hòa” chuyển sang “chủ hòa”, khiến cho non sông Việt cứ mất dần vào tay thực dân Pháp.

Trận Đại đồn Chí Hòa

Thời gian 24 và 25 tháng 2 năm 1861
Địa điểm Gia Định, Nam Kỳ
Kết quả Quân Pháp thắng trận.
Tham chiến
Nhà Nguyễn Đế chế Pháp thứ hai
Chỉ huy
Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương
Tham tán Phạm Thế Hiển
Thị lang Tôn Thất Cáp
Lang trung Nguyễn Duy
Tán tương Tôn Thất Chỉ
Phó lãnh binh Trương Định Đô đốc Léonard Charne
Thiếu tướng Jaurès
Đại tá Lapelin
Đại tá D’ Ariès
Đại tá Crouzat
Trung tá Testard
Trung tá Desvaux
Thiếu tá Allizé de Matignicourt
Và hai sĩ quan Tây Ban Nha là: Thiếu tướng De Vassoigne & Đại tá Palanca.
Lực lượng
20.000 (?) quân chính quy
10.000 dân quân
Số đại bác: không rõ. Khoảng 5.000 quân
Khoảng 50 chiến thuyền
Số đại bác: không rõ.
Thương vong
Khoảng 1.000 người chết và bị thương, mất 2.000 súng bắn đá lửa, 2.000 kg thuốc súng, 150 trọng pháo các cở và rất nhiều lương thực… 12 người chết, 213 người bị thương (theo báo cáo của Đô đốc Charner)



Trước khi giao tranh

Năm 1860, những rắc rối trong việc bang giao với Trung Quốc khiến chính phủ Anh và Pháp phải mở một cuộc viễn chinh mới tại quốc gia đó. Do vậy, tất cả lực lượng Pháp tại Viễn Đông liền được dùng vào cuộc chiến tranh này. Nên không những quân Pháp phải triệt thoái khỏi Đà Nẵng mà tại Sài Gòn chỉ còn để lại một đội quân nhỏ (khoảng 800 người) lo việc phòng thủ.

Theo Giáo sư Nguyễn Thế Anh, thì khi đó, chính phủ Pháp đã muốn rút quân ra khỏi Việt Nam, nhưng khi nghe tướng Charles Rigault de Genouilly biện hộ và Bộ trưởng Bộ Hải quân Pháp là Chasseloup Laubat tán đồng, thì chính phủ Pháp liền thay đổi quyết định. Vì thế ngay khi hòa ước Bắc Kinh được ký kết ngày 25 tháng 10 năm 1960, vua nước Pháp là Napoléon III, liền cử Đô đốc Léonard Charner thống lĩnh toàn bộ quân Pháp ở Viễn Đông, để hoàn thành nhanh việc chiếm cứ Nam Kỳ [1].

Và mục tiêu đầu tiên của viên tướng này là phải tấn công Đại đồn Chí Hòa, vì đây là một vật cản lớn cần phải phá bỏ để có thể tiến chiếm các nơi khác...

Theo ý kiến của GS. Nguyễn Phan Quang:
Theo như nhận định của các nhà nghiên cứu, một cuộc giải phóng đất nước đã mở ra. Nhưng tướng nhà Nguyễn chỉ huy mặt trận Gia Định là Tôn Thất Hiệp lại chủ trương “án binh bất động” để “làm nản lòng địch”. Do vậy, thời cơ đánh bật quân xâm lược ra khỏi bờ cõi bị bỏ qua [2].

Còn theo GS. Trần Văn Giàu, thì:
Tuy có chủ trương “vừa công vừa thủ”, nhưng không hơn gì Tôn Thất Hiệp, Thống tướng Nguyễn Tri Phương vẫn án binh bất động, chỉ khác một điều là ông tập trung sức lực quân dân (khoảng 30.000 người) không phải vào việc đánh mà vào việc xây dựng Đại đồn Chí Hòa nhằm bao vây địch chặt chẽ hơn, tính không cho địch bung ra rộng hơn nữa.[3].

Trong 800 quân đồn trú có 200 quân Tây Ban Nha, ngoài ra còn 1 đội hải quân gồm 4 chiến hạm cỡ lớn và 2 thuyền buồm. Đồn lũy của liên quân Pháp-Tây Ban Nha nằm giữa Sài Gòn-Chợ Lớn kéo dài 7 km có đặt nhiều đại bác hạng nặng[4]

Ngay khi nhậm chức ở Nam Kỳ, Nguyễn Tri Phương đã cho người dò la. Biết rõ đối với súng đạn có sức tàn phá rất mãnh liệt của người Pháp, quân nhà Nguyễn dù can đảm tới đâu cũng không thể giáp chiến được, ông lựa chọn chiến lược nửa công nửa thủ, tức dựng chiến lũy để bảo vệ quân Việt Nam khỏi súng địch và bao vây dần quân Pháp. Ông truyền lệnh xây nhiều pháo đài và đắp lũy ở phía Bắc Sài Gòn, cách quân Pháp khoảng 4 km. Chiến lũy vây quân Pháp dài từ 12-16 km,có đủ chỗ cho quân canh phòng và lực lượng ẩn nấp bên trong.

Nhà báo Pháp Maxim Vauvert viết trong tạp chí Monde Illustré ngày 20 tháng 4 năm 1861 đã ghi nhận:
Họ (quân nhà Nguyễn) xây dựng ở đồn Kỳ Hòa những chiến lũy vĩ đại, dựa theo 1 dãy pháo đài kiên cố, diện tích chừng 12 km. Tất cả những thành lũy bài trí khéo léo và có 1 đại đội binh mã chống giữ...mỗi ngày người Việt Nam lại dựng thêm chiến lũy mới để bao vây quân Pháp[4]

Một sĩ quan Pháp đã từng tham dự cuộc công kích Kỳ Hòa là Phillippe Aude đã viết trong 1 bức thư ngày 28-3-1861:
Những chiến lũy mà người Việt Nam dựng lên rất kiên cố đều bằng đất sét cốt tre...Quân Việt Nam rất can đảm và về dũng cảm cũng như lòng khinh thường trước cái chết, chỉ xem 1 việc dùng chiến khí sau này của họ thì đủ rõ lời tôi nói không phải là không xác đáng. Trong khi giao chiến họ dùng dáo, thứ khí giới này chỉ đâm được quân địch cách 4 thước, đó là 1 lối tự vệ rất can đảm, đến quân Tàu cũng chưa bao giờ nghĩ đến [4]

Một viên tướng khác trong quân đội Pháp cũng đã khen ngợi Nguyễn Tri Phương:
Thấy phương pháp dụng binh của Nguyễn Tri Phương, người ta phải tin rằng vị nguyên soái anh hùng của nước Nam đã biết phương lược xây dựng lối pháo đài tạm thời như Totleben ở Sébastopol, Denfert Rochereau ở Belfort, Osman Pacha trong trận Plevna. Quân Pháp cũng nhận xét:Thành lũy của Nguyễn Tri Phương dựng mau như nấm mọc, hễ chỗ nào có lối đi là có ngay chiến lũy ngăn cản.[4]

Quân Pháp bị vây chặt tới nỗi trong 6 tháng liền không nhận được tin tức gì từ Pháp. Tuy nhiên quân đội nhà Nguyễn tuy đông đảo cũng không thể diệt nổi quân Pháp cũng do súng đạn họ tinh xảo và bắn xa được vài ngàn thước, hễ quân Nam tiến tới gần đồn lũy của Pháp là bị đại pháo tàn sát. Dù vậy, khi Nguyễn Tri Phương mới nhậm chức, có lần chiến hạm Pháp đang nã súng vào pháo đài Phú Nhuận thì bị quân Nam đánh lui, vua Tự Đức đã ban thưởng cho tướng sĩ hậu hĩ để khuyến khích tinh thần chiến đấu của mọi người.[5]
 dai_don_chi_hoa_500
Pháp tấn công phòng tuyến có đài quan sát ở  Đại đồn  Chí  Hòa


Xem : Đại đồn Chí Hòa, Trận thành Gia Định, 1859


Cuộc tấn công của Nguyễn Tri Phương

Sau khi bao vây được quân Pháp, Nguyễn Tri Phương cho quân liều chết dưới mưa đạn để hãm đồn Cây Mai. Trong đêm 3 và 4-7-1860, 3.000 quân của ông đã anh dũng chiếm được 1 đồn lũy do Đại úy người Tây Ban Nha Fernandez chỉ huy với 100 lính Tây Ban Nha và 60 lính Pháp. Trái phá đối phương bắn ra không ngớt khiến quân nhà Nguyễn thây chết đầy đồng nhưng đích thân Nguyễn Tri Phương vẫn thản nhiên chiến đấu bên cạnh quân sĩ. Khi tiền quân đi quá sâu vào trận địa quân Pháp, ông truyền án binh, hạ trại.[5]

Trong tháng 11, quân Pháp lại tấn công dữ dội các pháo đài ở Gia Định nhưng quân nhà Nguyễn đã đánh lui được đối phương khiến quân Pháp thiệt mất tới 132 binh sĩ. Được tin thắng trận, vua Tự Đức tiếp tục ban thưởng cho các tướng sĩ ngoài mặt trận. Trong giai đoạn này, Nguyễn Tri Phương đã giành được thắng lợi và nếu không có ưu thế của đại bác thì quân Pháp-Tây Ban Nha không tránh khỏi việc bị tiêu diệt.[5]


Lực lượng đôi bên


Về phía Pháp

Theo GS. Trần Văn Giàu, tính chung đội quân viễn chinh vừa kể trên với số quân có sẵn tại Sài Gòn khoảng 800 người, thì lực lượng của Pháp chỉ có khoảng 5.000 quân với khoảng 50 chiến thuyền các loại.[6]


Về phía Việt Nam

Phía Pháp nói ở Chí Hòa, quân Việt có tới 20.000 quân chính quy, 10.000 dân quân và ở Biên Hòa có 15.000 quân từ miền Trung vào. Nhưng theo GS Trần Văn Giàu, chắc quân chính qui không đông như thế. Vì khi Pháp đánh Đà Nẵng, gần sát kinh đô mà quân triều đình ở đó chỉ có 3.200 người, thì ở Gia Định xa xăm, không thể có hơn 2 vạn được. Dân quân thì đông, chắn chắn như vậy. Sở dĩ Pháp “ tăng” số quân của Nguyễn Tri Phương, trước hết là để tăng giá trị trận đánh của họ[7]


Kế hoạch hành binh của Pháp
Dàn đại bác theo phòng tuyến các chùa, chiến thuyền đậu từ sông Rạch Cát qua sông Bến Nghé và sông Thị Nghè, tất cả đều nhắm vào Đại đồn.
Đại quân bộ của Pháp sẽ từ chùa Cây Mai đánh bọc phiá tây nam, là phiá yếu nhất cuả Đại đồn, cắt đứt đại đồn với kho lương ở Thuận Kiều, và dồn quân Việt chạy về phiá sông Gò Vấp để chặn đánh.
Bố trí chiến thuyền ngăn viện binh từ Biên Hòa xuống, và ngăn quân Việt rút chạy lên đó.
Thủy quân Pháp ở cánh Đông bắc cùng bộ binh ở cánh tây nam sẽ bao vây và tiêu diệt đại quân Việt trong khoảng giữa ba sông, là Thị Nghè, Gò Vấp và Bến Nghé.


Đại đồn Chí Hòa bị tấn công
 
Charles Rigault de Genouilly.

Tuy lời kể ở mỗi sách có vài chi tiết khác nhau, nhưng cuộc tấn công đại để như sau:

Sau mấy tuần chuẩn bị và sau khi nghe Đại tá Crouzat phúc trình công tác thám thính Đại đồn xong, 4 giờ sáng ngày 24 tháng 2 năm 1861, được lệnh của Đô đốc Charner, đại bác của Pháp từ “phòng tuyến các chùa” và trên các tàu, đều nhắm vào đại đồn Chí Hòa mà bắn. Đại bác của quân Việt từ Đại đồn rộ lên đáp trả. Hai bên đánh nhau bằng đại bác tới sáng.

Từ vùng chùa Cây Mai, Đô đốc Charner, Thiếu tướng De Vassoigne và Đại tá Palanca (Tây Ban Nha) dẫn quân tiến lên cùng với pháo nhẹ. Quân Việt trong đồn Hữu bắn cản lại. De Vassoigne và Palanca đều bị thương. Đại bác Pháp liền bắn khoảng 500 phát vào đồn Hữu, rồi cho bộ binh tấn công chiếm đồn. Phía Việt cho voi xông ra ứng chiến, nhưng đội quân voi tỏ ra không mấy hiệu quả trước đại bác, súng trường…

Hai bên đánh nhau đến tối, nhưng Pháp chỉ mới tiến được một cây số, còn hai cây số nữa mới đến được Đại đồn.

Đêm đến, hai bên đều ngưng chiến. Năm giờ sáng hôm sau, quân Pháp tràn lên tấn công, xáp được gần Đại đồn. Song cách vách thành trăm thước thì gặp rất nhiều cạm bẫy, hào ụ, nên tiến rất chậm. Quân Pháp lúc này bị bắn chết và bị thương rất nhiều. Tuy vậy, quân Pháp vẫn quyết dùng thang và đứng trên vai nhau mà trèo lên vách đồn. Trên đồn và trong các lỗ châu mai, quân Việt bắn chém dữ dội. Phần lớn các thang tre của Pháp vác theo đều bị đánh gãy, nhưng cuối cùng vẫn có một số lính Pháp vào được Đại đồn. Hai bên xông vào đánh giáp lá cà, giành giật nhau từng khu vực một.

Chống chọi được một lúc, tướng Nguyễn Tri Phương bị mảnh đại bác trúng bụng, phải ra lệnh rút quân về đồn Thuận Kiều. Ngày 28 tháng 2, Pháp tấn công Thuận Kiều, Đại tá Crouzat của Pháp bị thương, nhưng quan quân phải bỏ đồn Thuận Kiều, bỏ cả đồn Tây Thới mà chạy tán loạn về Biên Hòa, mất hầu hết khí giới và lương thực...Riêng Trương Định rút về Gò Công tiếp tục kháng Pháp..
Tập tin:Vice-Amiral Charner.jpg
Đô đốc Charner, hình vẽ khoảng năm 1880

Trích thêm trong sách Monographie de la province de Gia Đinh, phần tấn công Đại đồn:
Trong đêm 23 rạng ngày 24 tháng 2 quân Pháp tập hợp ở Bào Dứa, một ao nhỏ trên ranh giới Tân Sơn Nhì và Tân Thới. Lính kỵ binh Tây Ban Nha đóng ở Bàu Cát trong Phú Thọ. Từ sáng sớm, cuộc pháo kích bắt đầu. Cuộc tấn công kéo dài suốt ngày với kết quả là Pháp chiếm được nhiều công trình bên ngoài, pháo đài và trại quân... Buổi chiều lúc 5 giờ trong khi quân Nam tập trung lực lượng vào các điểm trên, chuẩn bị cho cuộc chiến ngày mai, quân Pháp tiến lên phía Bà Quẹo đóng quân qua đêm tại thôn Cù Lao Keo.
Ngày 25 là cuộc chiến quyết định. Sáng sớm, pháo binh đóng tại Chòm-Mây Mà-Đá gần ngã ba đường đi Tây Ninh và Chợ Lớn tấn công vào ba pháo đài phía tây với sự hỗ trợ của bộ binh. Quân Nam bắn trả kịch liệt. Nhưng đại pháo của họ chẳng bao lâu đều bị triệt hạ.
Đô đốc Charner ra lệnh tấn công vào thành. Nguyễn Tri Phương đứng một góc Đại đồn trên một chiến lũy, quan sát chiến trận, nhìn thấy quân Pháp tiến lên. Ông ta đem toàn lực lượng để đẩy lui quân Pháp và cho di tản khỏi đồn Tả Hậu, Quân Pháp lội xuống hào và tiến vào chân thành dưới làn mưa đạn của quân Nam, các cạm bẩy, hố chông và chướng ngại vật. Họ phá cửa, leo lên thành và đột nhập vào thành. Nguyến Tri Phương ngồi dưới bốn tán lọng là một mục tiêu tốt cho quân đối phương. Ông ta bị trúng đạn ở cánh tay trong khi người em (Nguyễn Duy) thì bị tử thương. Quân hộ vệ đặt ông Phương lên võng và khiêng đi. Trong khi đó, quân sĩ tưởng rằng tướng lãnh của họ đã chết nên tự rút lui, bỏ cả thành trì chạy về phía Tân Sơn Nhì và Gò Vấp. Đến 8 giờ tối, quân Pháp hoàn toàn làm chủ Chí Hòa...[8].

Sau này, trong báo cáo của Đô đốc Charner, còn cho biết:
Quân địch (tức quân Việt) đã kháng cự kịch liệt (…). Địch ở sau các bờ thành xô nhào các cây thang được áp vào tường (…), dội nước sôi và ném các vật dẫn lủa từ trên thành xuống. Súng bắn ra dữ dội từ các lỗ trên bờ thành. Họ cố thủ cho đến khi ta tiến sát mép bờ rào; và khi ta trèo lên được mặt tường thành, thì họ mới bỏ chạy tán loạn...[9]

Nhận được tin Đại đồn thất thủ, triều đình nhà Nguyễn tức tốc phái Nguyễn Bá Nghi mang 4.000 quân vào chi viện. Nhưng viên tướng này, chỉ đến Biên Hòa thì cho dừng quân lại, cử người đi tìm gặp Đô đốc Charner để xin được nghị hòa và tâu về Huế rằng: "Việc nước ta ngày nay, trừ một chước hòa không có chước nào khác. Hòa thì không ổn rồi, nhưng trông mong sự khôi phục về sau...” [10]

Theo các báo cáo của Pháp ghi lại:
Quân ta gồm 4,000 quân đã tấn công thành luỹ. Chúng ta đã chiếm được thành nhưng thiếu tướng Vassivigne bị 1 viên đạn bắn trúng cánh tay. Đại tá Palanca người Tây Ban Nha bị 1 viên vào bắp chân, nhiều sĩ quan khác bị trọng thương. Người Nam có súng tốt và dũng cảm hơn người Tây nhiều...[11]


Thiệt hại
Theo báo cáo của Đô đốc Charner ngày 27 tháng 2 năm 1861, thì phía quân Pháp có 12 người chết, 213 người bị thương [12]. Nhưng theo báo Le Mémorial d’ Asie phát hành tháng 2 năm 1861, thì con số thiệt hại của Pháp lớn hơn: 16 người chết, 299 người bị thương, trong số đó có Thiếu tướng De Vassoigne, Đại tá Palanca, Đại tá Crouzat đều bị trọng thương, Trung tá thủy quân lục chiến Testard chết ở bệnh viện...[13].
Bên quân Việt, khoảng 1.000 người chết và bị thương, trong số đó có Tham tán Phạm Thế Hiển, Lang trung Nguyễn Duy, Tán tương Tôn Thất Chỉ đều tử trận và Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương thì bị thương nặng. Ngoài ra, Đại đồn còn bị đối phương chiếm mất 2.000 súng bắn đá lửa, 2.000 kg thuốc súng, 150 trọng pháo các cở và rất nhiều lương thực..


Nhận xét

GS. Trần Văn Giàu:
Nguyễn Tri Phương và các võ quan, văn quan cao cấp của triều đình lúc bấy giờ, mang nặng "võ khí chủ nghĩa". Họ hốt sợ trước vũ khí bắn xa mạnh và đúng cùng tàu to của đối phương. Họ đâu có biết rằng yếu tố quyết định là lòng dân, là tinh thần binh sĩ...(Tổng tập, tr. 81). Và Đại đồn thiếu cao thừa rộng, mặt thì yếu, mặt thì mạnh, địch dễ leo vào đánh xuyên hông, đánh bọc hậu...Công trình này xây dựng gần một năm với công sức của mấy vạn quân và dân, chỉ bảo vệ được hơn một ngày thì mất!...Đại đồn Chí Hòa, biểu hiện chiến lược phòng thủ tai hại của tướng Nguyễn Tri Phương!...[3]

Sách Lịch sử Việt nam: 1858 - cuối thế kỷ 19 có đoạn:
Việc hệ thống phòng ngự ở Đại đồn tan vỡ và Gia Định bị Pháp chiếm đóng hoàn toàn, đã chính thức tuyên cáo sự thất bại của chủ trương “lấy chủ đợi khách, nên dùng kế trì cửu để cho họ mỏi”. Cho nên, sau vụ chấn động đó, triều đình Huế sẽ từ “thủ để hòa” chuyển sang “chủ hòa”, để cho Pháp lần lượt chiếm đóng Định Tường (15 tháng 4 năm 1861), rồi sau đó là Biên Hòa (7 tháng 1 năm 1862) và Vĩnh Long (23 tháng 3 năm 1862).[14].

Nhà văn Phan Trần Chúc cho rằng:
"Cái thua của ta không phải vì thiếu lòng can đảm hy sinh, cũng không phải vì thiếu tướng tài điều khiển hoặc thiếu chiến lược ứng dụng với tình thế. Sự bại trận của Nguyễn Tri Phương là lẽ dĩ nhiên vì kỹ thuật chiến tranh của Pháp tiến bộ đến giai đoạn cơ khí ở thế kỷ XIX mà quân ta thì dùng các khí giới về thời phong kiến. Cự địch với đại bác, thần công, súng trường, lựu đạn...quân ta chỉ mang nào gươm, nào dáo, nào súng hỏa mai và một tấm lòng...[5]
sưu tầm 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét